Sunday, January 29, 2017

LŨY THỪA

LŨY THỪA

I- KHÁI NIỆM LŨY THỪA

1. Lũy thừa với số mũ nguyên

Trước khi bắt đầu, xin nhấn mạnh rằng đây là một khái niệm đơn giản, xin kể cho các bạn nghe một câu chuyện cổ có liên quan đến lũy thừa
" Có một vị vua nọ muốn tìm người tài để giúp ông giải quyết một công việc trọng đại và hứa sẽ ban thưởng hậu hĩnh nếu hoàn thành được xuất xắc nhiệm vụ. Ông ta tìm kiếm và cuối cùng cũng tìm được một chàng trai nọ, chàng trai này có biệt hiệu là Quách Lão Tiên Sinh. Sau khi hoàn thành xuất sắc công việc, ông vua hỏi:
  • Này chàng trai trẻ, cậu muốn ta thưởng cho cậu thứ gì cho thực xứng đáng với công sức bỏ ra của cậu đây ?
  • Thưa đức vua đáng mến, thảo dân chỉ xin ngài một cái bàn cờ và xin ngài hãy đặt vào đó những hạt gạo 
  • Đơn giản vậy sao? Thế cậu muốn ta đặt chúng như thế nào? Ta có cả kho gạo to lớn, bàn cờ nhỏ bé ấy chẳng là gì khó khăn với ta cả
  • Dạ thưa đức vua, con muốn ô thứ nhất 2 hạt, ô thứ hai 4 hạt, ô thứ ba 8 hạt ..... 
Chẳng hiểu sao nhà vua lại đồng ý....kết quả là ông ta vét cạn cả rất rất nhiều kho gạo mới đủ trả công cho chàng thanh niên ấy
Trên đây là một câu chuyện về lũy thừa với cơ số 2, dãy số mà ta đề cập là 2,4,8,16,32....
ĐỊNH NGHĨA
a là số thực tùy ý. Lũy thừa bậc n của a là tích của n thừa số a, n là số nguyên dương

a^n=a.a.a....a (n thừa số a)

Thực ra chúng ta đã gặp hình ảnh của lũy thừa rất nhiều lần, các hằng đẳng thức mà chúng ta học thuộc chính là hình ảnh của lũy thừa, và như vậy, lũy thừa là một hình ảnh quen thuộc, tuy nhiên nếu để ý thêm một vài điều kiện nữa về lũy thừa có lẽ sẽ có nhiều ích lợi!

Cụ thể, mặc dù  a là số thực, tuy nhiên số 0 trở nên đặc biệt trong một vài trường hợp sau đây

  • 0^0: không mũ không là không có nghĩa 
  • 0^(-n) cũng không có nghĩa, thực ra ở dòng này một số bạn sẽ có thể khó hiểu, mình xin phép giải thích. Dòng này nói đơn giản có nghĩa là: " 0 mũ âm hổng có nghĩa". Với n là số nguyên dương 0^(-n) = 1 / 0^n = 1 / 0 (phép chia cho số 0 thì không có nghĩa)

Chú ý, với n nguyên dương. a^(-n) = 1 / a^n

2. Căn bậc n

Cho số nguyên dương n, phương trình a^n = b
  • Nếu ta biết a, việc tính b là dễ dàng
  • Nếu ngược lại, lúc này ta biết b, bài toán đặt ra là a bằng bao nhiêu
Xét ví dụ sau: 
  • a^2 = 4. Hỏi các căn bậc 2 của 4 là bao nhiêu??? ( ở đây căn bậc 2 của 4 là nghiệm của phương trình vừa nêu). Như vậy a có thể nhận giá trị {-2,2}
  • Cho số thực b và số nguyên dương n (n>=2). Số a được gọi là căn bậc n của b nếu a^n = b.
Từ định nghĩa và kết quả biện luận về số nghiệm phương trình x^n = b, ta có
  • Với n lẻ và b là số thực thì tồn tại duy nhất một căn bậc n của b
  • Với n chẵn, như ở ví dụ trên khi b>0 thì tồn tại hai căn trái dấu ( ở đây là -2 và +2), khi b = 0 thì rõ ràng có một kết quả là 0, còn khi b<0 thì không có căn bậc n
Như vậy, những căn bậc n có những tính chất nào ?
Các tính chất đã được liệt kê chi tiết ở SgK trang 51,52 tuy nhiên xin phép tóm gọn lại bằng câu "khẩu quyết" để mọi người học thuộc:
  • Nếu là căn cùng bậc, có thể gộp lại ở các phát biểu dạng tích và thương
  • Hai n và k căn lồng nhau là căn với  bậc là n.k 
  • trường hợp đặc biệt: b = a^n. Ta chỉ cần chú ý căn bậc n của a là trị tuyệt đối của a khi n chẵn

3. Lũy thừa với số mũ hữu tỉ

Đây là dạng kết hợp của hai phần trên, số hữu tỉ có dạng là m / n, khi đó ta khảo sát a^(m/n)
  • m ở tử nên m là đại diện cho lũy thừa mũ m. 
  • n ở mẫu nên n đại diện cho căn bậc n
Gộp lại  a^(m/n) được phát biểu là " căn bậc n của a mũ m "
Các điều kiện ở lũy thừa, ở căn được bê nguyên si :p Vẫn là n>=2, vẫn là những trường hợp đặc biệt dành cho số 0. 

4. Lũy thừa với số mũ hữu tỉ

Chúng ta sẽ không đào sâu nghiên cứu về chủ đề này. Nó không xuất hiện nhiều trong các dạng toán phổ thông mà cho dù có xuất hiện thì máy tính bỏ túi là công cụ hỗ trợ rất đắc lực. Định nghĩa của lũy thừa bậc n liên quan đến giới hạn, nhìn chắc phức tạp đấy, nên thôi mình hiểu đơn giản là thay vì số tự nhiên, nó là số vô tỉ như căn 2, căn 3 gì đó....Tóm lại là kệ cha nó :p 

5. Các tính chất của một hàm lũy thừa

Ở phần này ta sẽ xét các tính chất liên quan đến Đẳng thức và Bất đẳng thức ứng với hàm số mũ
Do tác giả khoái Bất Đẳng Thức hơn nên sẽ viết về phần này trước:
  • Các bất đẳng thức này là các bất đẳng thức có cùng cơ số, với cơ số là a ta có 2 trường hợp
    • a > 1: khi đó a^x > a^y  <=>  x > y
    • a < 1: khi đó a^x > a^y  <=>  x < y
  • Ta thấy rằng 
    • Trường hợp a > 1 là trường hợp thông thường hay gặp, mà những năm lớp 6,7 ta thường được thấy, nghe, viết 2^3 > 2^2 bởi vì 3 > 2
    • Trường hợp a < 1 có lẽ được xếp  vào trường hợp lạ, và do đó kết quả thu được cũng lạ "không kém", thực ra chỉ là đảo ngược lại so với trường hợp thông thường mà thôi
Các tính chất liên quan đến Đẳng Thức hàm số mũ thực được đề cập ở chương trình ở các lớp dưới, nhưng khi đó là dưới dạng số chẳng hạn (2^3) .(2^2) = 2^(3+2) = 2^5. Nhìn chung, việc ghi nhớ các đẳng thức này không khó, ta thường xuyên dùng nó trong các biến đổi đại số thường ngày trong các lớp bài toán về phương trình. bất đẳng thức, đồ thị,.... mọi nơi.....
Các bạn có thể tham khảo tại trang 54 SGK 
Hãy xem định nghĩa lũy thừa trên google nó phức tạp như thế nào !!! 





KHẢO SÁT SỰ BIẾN THIÊN VÀ VẼ ĐỒ THỊ HÀM SỐ

I-SƠ ĐỒ KHẢO SÁT HÀM SỐ

Với các kì thi tự luận trước đây, khảo sát hàm số là câu "lấy điểm" luôn xuất hiện trong các đề thi. Vị trí thường là những câu đầu tiên. Với tinh thần nắm lại những bước căn bản trong quá trình khảo sát, sau đây mình xin trình bày những nội dung lý thuyết có liên quan

1. Tập xác định

Tìm tập xác định là bước đơn giản nhưng quan trọng đối với việc khảo sát hàm số. Các hàm số khảo sát trong chương trình 12 thường mang tính liên tục, vì vậy việc để ý tính liên tục của hàm cũng là một điều đáng lưu ý

2. Sự biến thiên


  • Xét chiều biến thiên của hàm số
    • Tính đạo hàm y'
    • Tìm các điểm mà tại đó y' đạt giá trị 0 hoặc không xác định
    • Xét dấu đạo hàm y' và suy ra chiều biến thiên của hàm số
  • Tìm cực trị
  • Tìm các giới hạn tại vô cực, các giới hạn vô cực hoặc tiệm cận nếu có
  • Lập bảng biến thiên

3. Đồ thị

  • Vẽ đồ thị (càng đẹp càng tốt)

II - KHẢO SÁT MỘT MỘT SỐ HÀM VÀ TƯƠNG GIAO HAI ĐỒ THỊ

Các bạn  tham khảo sách giáo khoa từ trang 32 - 41 về phần khảo sát hàm số (Sách giáo  khoa viết rất rõ ràng về vấn đề này, và đây là một dạng toán đơn giản mà mình tin chắc là ai cũng làm được)
Sau đây, chúng ta sẽ bàn kĩ hơn về tương giao của hai đồ thị và một vài vấn đề liên quan tới đó
Xét trên phương diện hình ảnh:

  •  Đồ thị của hàm số f(x), g(x) là những đường, nét nối tất cả các điểm (Xi,F(xi)) (đối với đồ thị f(x)) và (xi,G(xi)) đối với đồ thị g(x). Để đơn giản ta xem chúng lần lượt là hai đường cong đơn giản nào đó, đặt tên là F và G

  •  F,G có mối liên quan:
    • Cắt nhau: khi đó nhiệm vụ của ta là tìm vị trí cắt nhau của hai đồ thị, công việc này không gì khác hơn là tìm nghiệm của phương trình f(x) = g(x). Và cũng như vậy, hai đồ thị cắt nhau luôn có một liên hệ mật thiết với việc giải và biện luận về nghiệm của phương trình ( Các bạn hãy tham khảo chi tiết ví dụ 8, Sgk trang 42)
    • Không cắt nhau: khi đó phương trình f(x) = g(x) vô nghiệm
    • Chú ý: phương trình f(x)=g(x) còn được gọi là phương trình hoành độ giao điểm của đồ thị F, G
    • Mở rộng: Liệu có phương trình tung độ giao điểm không nhỉ ( dành cho các bạn tò mò nghiên cứu thêm)
  • Ứng dụng:
    • Việc tìm giao điểm của hai đồ thị không những xuất hiện trong các bài toán đơn thuần về đồ thị, các bài toán liên quan đến phương trình mà còn đóng vai trò quan trọng trong một lớp bài toán tìm diện tích nhờ Tích Phân- Vi Phân



Friday, January 20, 2017

TÁN GÁI BẰNG SIN COS TAN

TÁN GÁI BẰNG SIN COS TAN


I. DẪN NHẬP VỀ SIN COS TAN

Hồi còn ở Sài Gòn, mình có cơ hội đi kèm toán cho một cái bạn lớp 11 trường Marie Curie, nhìn cũng khôi ngô, tuấn tú và bự con lắm....bự cỡ nào thì bự chứ sao bự bằng "thầy" được, mình được vinh hạnh làm thằng thầy của bạn ấy
Bắt đầu học lượng giác, mình mới hỏi bạn ấy công thức lượng giác, hắn lắc đầu nguầy nguậy!
Rồi mình mới ê a....để anh gợi ý cho em :
Sin đi học
Cứ khóc hoài
Thôi đừng khóc 
Có kẹo đây
Hắn bĩu môi....lại cái thứ này nữa à...chán chết! 
Do vậy chủ đề ngày hôm nay của chúng ta là bàn về các cách thức để học thuộc những công thức lượng giác trên sao cho khỏi CHÁN !!!
Đối tượng của bài viết này là các bạn khó khăn trong việc nhớ công thức, hoặc nếu bạn nhớ rồi thì cũng hi vọng đem lại cho các bạn những giây phút thư giản!
Nào chúng ta hãy bắt đầu

II. KẾ HOẠCH VỀ SIN COS TAN


II.1 CẢI TIẾN "BÀI THƠ" SIN COS TAN TRUYỀN THỐNG

Bài thơ nổi tiếng trên hẳn đã đi qua bao thế hệ, hôm nay mình mạn phép cải tiến nó lại cho mang chút màu sắc đen tối, xem như dạo đầu cho những câu chuyện tiếp theo
TÌNH ĐEN TỐI
Sin đi học
Cứ khóc hoài
Thôi đừng khóc
Có Ka đây
Sin đi học
Cứ khát hoài
Thôi đừng khóc
Có khoai đây
Bằng bất cứ cách nào có thể, miễn là học thuộc công thức là được mà nhỉ ( cười khoái trá )

II.2 NHỮNG BẢN TÌNH CA SIN COS TAN LÁU CÁ


Sau đây là một câu chuyện về một tình yêu đẹp, phải rồi tình chỉ đẹp khi còn dang dở, đời mất vui khi cắt máu ăn thề....Chàng trai của chúng ta say mê cô gái ấy, một cô gái có giọng hát hay nhưng đượm chút buồn, chàng trai ấy đợi chờ và hi vọng....
ĐƠN PHƯƠNG
Sin em đừng hát nữa
Nắng đã lên đỉnh đồi
khoảng trời hồng rực
Tình ta đôi khúc ca
 khăn đỏ xinh ơi!
Sao em vẫn không cười
Thôi thì anh vẫn đợi
Đợi một bài ca vui....

Có lẽ đó là một tình yêu buồn, nhưng anh chàng sau đây thì láu cá hơn, dẻo miệng hơn và man rợ hơn. Cái gì thì gì, được ôm ai vào một tiết  trời noel thì sướng đến chết ( trừ mấy thằng đực rựa FA cùng phòng, ôm có mà chết vì hôi nách :P)
ÔM
Xinh xinh, đỏ đỏ, má em hồng
có,không không,hai mình trông
Hai mình trông tơ tình đã kẽ
Tình đã kẽ, nhìn mắt nhau cười
bé ơi, kìa em đừng ngại
Vì lỡ tay tôi "tóm" em rồi!

(P/s: Lưu manh thứ thiệt)
Đã là con trai thì yêu cái đẹp là điều tất nhiên. Thật ra con người ai cũng yêu cái đẹp, con gái yêu cái đẹp nên mấy bạn ấy thích hoa đấy, có khi còn ngắm nữa cơ; còn con trai chúng mình thì chỉ yêu cái đứa biết yêu cái đẹp mà khác giới thôi....Đây là một chuyện tình sấm sét, một chàng sinh viên về quê ăn tết, anh ấy đến một bãi xe khách nhìn rất cũ, nền đất dơ bẩn.....Không thể tin được, phải chăng đây là cuộc tình éo le ( Cảnh buồn tình có vui đâu bao giờ )
TIA GÁI
Sình bùn nơi đó, có hơi vàng
" trắng" kề vai HÉT giữa đàng:
"Mại zôôôô, còn chỗ!", nhét bàng hoàng
Tết này cò xe quá nghênh ngang...
Bỗng trong đám đông lóe hào quang
Cô tiên bé bé váy vàng vàng
Ôi hoang mang hồn tôi tan nát
Tình đã kết từ trong ánh mắt
em ơi, kìa đứng chờ tôi!

III - ỨNG DỤNG SIN COS TAN

Hãy tưởng tượng một ngày nào đấy, có một cô bé nào đấy nhờ bạn chỉ công thức lượng giác vì nó quá khó thuộc, và bạn có thể dùng những tuyệt chiêu trên để ..... E hèm, đừng có nghĩ bậy nhé, để giúp bạn ấy thuộc nhanh, nhớ lâu hơn! 






Thursday, January 19, 2017

ĐƯỜNG TIỆM CẬN

ĐƯỜNG TIỆM CẬN

I- ĐƯỜNG TIỆM CẬN NGANG

CHÚ Ý: (SGK/28)

Gõ tới đây mình mới phát hiện là chưa biết gõ công thức toán ở blog như thế nào cả. Nhưng sẽ sửa chữa lại sớm nhất có thể!!!
Ở chú ý này, sách giáo khoa thống nhất một cách trình bày gọn hơn thay vì viết 2 lần (đơn giản vậy thôi, mấy bạn lật sách ra xem thử nhé, sorry)

ĐỊNH NGHĨA

Cho hàm số y = f(x) xác định trên khoảng vô hạn. Đường thẳng y = yo được gọi là đường tiệm cận ngang của đồ thị hàm số y= f(x) nếu ít nhất một trong các điều kiện sau thỏa mãn:
  • Giới hạn của f(x) = yo với x --> +oo
  • Giới hạn của f(x) = yo với x --> -oo
Sau đây là hình ảnh minh họa cho đường tiệm cận ngang 
Vậy thế nào để xác định đường tiệm cận ngang của một hàm số y = f(x) ????
Đơn giản chúng ta sẽ tìm giới hạn của f(x) khi x--> vô cùng
Ở đây vô cùng có nghĩa là +oo hoặc -oo, và nếu giới hạn tìm được là "một con số" thì con số đó là giá trị của đường tiệm cận ngang.
Lưu ý:
+ Nếu khoảng xác định của hàm số là (a,+oo) thì ta chỉ xét giới hạn f(x) khi x --> +oo thôi vì -oo không nằm trong tập xác định của f(x). Tương tự với tập xác định là (-oo,b) nhé!

Nói tới, nói lui một hồi ta cần phải biết tìm giới hạn, kì thực mảng toán tìm giới hạn mà để đứng "riêng" có thể là một mảng toán khó và cũng có nhiều bài hóc búa. Tuy nhiên khi kết hợp với dạng toán tiệm cận này thì chúng ta thường gặp những hàm số f(x) rất dễ thương, và do đó rất dễ "kết bạn". Nếu bạn nào có thắc mắc về cách tìm giới hạn, có thể xem lại sách giáo khoa 11 hoặc có thể comment bên dưới để hỏi :p

II - ĐƯỜNG TIỆM CẬN ĐỨNG

ĐỊNH NGHĨA

Đường thẳng x = xo được gọi là đường tiệm cận đứng của đồ thị y = f(x) nếu ít nhất một trong các điều kiện sau đây thỏa mãn
  • Lim của f(x) = +oo với x-->xo+ , Lim của f(x) = -oo với x -->xo-
  • Lim của f(x) = -oo với x-->xo+ , Lim của f(x) = +oo với x -->xo-
Nếu đọc sách giáo khoa, chắc chắn sẽ có nhiều bạn không hình dung được, do vậy mình sưu tầm một video trên Youtube, các bạn có thể tham khảo nhé:
Bạn nào có thắc mắc, comment để mọi người cùng giải đáp nhé !!!!


CỰC TRỊ HÀM SỐ

CỰC TRỊ HÀM SỐ

I - KHÁI NIỆM CỰC ĐẠI, CỰC TIỂU

I.1 Định nghĩa

Cho hàm số y = f(x) xác định và liên tục trên khoảng (a ; b) (có thể a,b tiến tới vô cùng)
xo thuộc khoảng (a;b), khi đó:
a). Nếu tồn tại h > 0 sao cho với mọi x thuộc (xo -h; xo + h) và x khác xo mà f(x) < f(xo) thì ta nói hàm số f(x) đạt cực đại tại xo.
b). Nếu tồn tại h > 0 sao cho với mọi x thuộc (xo -h; xo + h) và x khác xo mà f(x) > f(xo) thì ta nói hàm số f(x) đạt cực tiểu tại xo.

Giải thích định nghĩa: Đối với một vài bạn, định nghĩa này có thể sẽ khó để cắt nghĩa vì bởi lẽ dạng phát biểu của nó có phần lạ và khó hiểu. Để hiểu rõ, ta sẽ chia nhỏ phát biểu trên, chú ý rằng chúng ta chỉ xem xét mênh đề a (mệnh đề b hoàn toàn tương tự )
Trước tiên ta phải có một hình ảnh trực quan về CỰC ĐẠI, bạn xem hình sau đây:
Ở đây chúng ta quan sát thấy điểm A. ( A còn được gọi là "đỉnh đồi" hay sao ấy - theo một tài liệu nào đó mà mình đọc được). Về trực quan mà nói một điểm cực đại rất dễ nhận ra (bạn có thể hình dung nó là đỉnh của một ngọn đồi ~~ giống như mình)
Sau khi đã có hình ảnh trực quan, ta đi ta đi làm rõ vai trò của h trong mệnh đề trên!
Mình có 3 dấu chấm cần phân tích với bạn
  •  h > 0  là để hợp lý hóa cho khoảng (xo -h; xo + h) (tức là xo - h < xo + h ) 
  •  x thuộc (xo -h; xo + h) và x khác xo mà f(x) < f(xo) ta có thể ví dụ như xo = 0, h = -1 thì mọi x thuộc (-1;1) đều cho f(x) < f(0) với x khác 0. ( nghĩa là f(-1), f(-0,5), f(0,2).... đều nhỏ hơn f(0)). thành thử f(xo) lúc này là lớn nhất trong khoảng (xo -h; xo + h)
  • tồn tại h : đây là chìa khóa còn lại và mấu chốt trong phát biểu trên, các bạn quan sát hình sau

Các bạn chú ý vào điểm C, nếu so sánh với điểm A thì điểm C có vị trí cao hơn hẳn điểm A, nhưng người ta không gọi C(c,Yc) là điểm cực đại vì không thể nào tồn tại h > 0 để thỏa dấu chấm thứ 2 được. Tức là sẽ không có đỉnh đồi, cứ lên quoài mà chả chịu xuống. Còn đối với A thì "có lên, có xuống"

I.2 CHÚ Ý

Nếu A(x,y) là một điểm cực đại lúc đó:
- x được gọi là điểm cực đại
- y được gọi là giá trị cực đại
Tương tự đối với trường hợp A(x,y) là điểm cực tiểu
Theo tóm lược sách giáo khoa trang 14 là như vậy, ở đây mình cũng thấy hơi .... hơi...không ổn, cùng tên gọi là "điểm cực đại" nhưng lại dùng cho cả hai đối tượng là x và A . Còn về phần y thì gọi là giá trị cực đại rồi nên không thắc mắc. Có lẽ là vì x mang ý nghĩa thuần đại số trong khi A mang ý nghĩa thuần hình học, hoặc cũng có thể khác ? Bạn nào có ý kiến comment nhé!
Một chú ý khá quan trọng mà không thể quên được
f(x) có đạo hàm trên (a,b), f(x) đạt cực trị tại x =xo thì f'(xo) = 0.
Ta dùng tính chất trên để tìm các điểm cực trị

II - ĐIỀU KIỆN ĐỦ ĐỂ HÀM SỐ CÓ CỰC TRỊ

Cái nầy học thuộc nhé, hổng cần chứng minh đâu, mình xin nhắc lại định lý như sau

Giả sử hàm số y = f(x) liên tục trên khoảng K= (xo-h, xo+h) và có đạo hàm trên K hoặc trên K\{xo}, với h > 0
a). Nếu f'(x) >0 trên (xo - h, xo) và f'(x) <0 trên khoảng (xo,xo + h) thì xo là một điểm cực đại của hàm số f(x)
b). Nếu f'(x)<0 trên (xo - h, xo) và f'(x) >0 trên khoảng (xo,xo + h) thì xo là một điểm cực đại của hàm số f(x)

Bạn có thể hiểu được dễ dàng định lý trên thông qua hình minh họa một trường hợp ở dưới

Ta đến với định lý tiếp theo khá quan trọng

Giả sử hàm số y = f(x) có đạo hàm cấp 2 trong khoảng (xo-h,xo+h) với h>0. Khi đó:
a) Nếu f'(xo) = 0, f''(xo)>0 thì xo là điểm cực tiểu
a) Nếu f'(xo) = 0, f''(xo)<0 thì xo là điểm cực đại

Theo ý kiến chủ quan của mình thì cả hai định lý trên khá dễ hiểu, các bạn có thể thuộc được dễ dàng. Và theo kinh nghiệm thì có vẻ định lý 2 ít dùng hơn so với định lý đầu tiên vì nó yêu cầu thêm rằng phải có điều kiện của tập xác định để thỏa tồn tại đạo hàm cấp hai. Tuy nhiên mình sẽ độ môt câu khẩu quyết dành cho các bạn khó nhớ định lý thứ 2. Đó là

a) > tiểu 
b) < đại

Chú giải: muốn đạt cực trị thì dĩ nhiên f'(xo) = 0 rồi, khỏi phải bàn cãi, vần đề là nhớ dấu của f''(xo) so với 0, khi nào thì đạt cực tiểu, khi nào thì đạt cực đại

" Lớn hơn tiểu (nhỏ,xíu)
  Nhỏ hơn đại (lớn,bự)"

Ngày xưa, có một cậu bạn vẫn hay ghẹo mình mỗi khi giảng bài cho nó:

"Lớn thì đái
Nhỏ thì ị"

Giải trí thôi nhé, hì hì :)

SỰ ĐỒNG BIẾN, NGHỊCH BIẾN CỦA HÀM SỐ

SỰ ĐỒNG BIẾN, NGHỊCH BIẾN CỦA HÀM SỐ

I - TÍNH ĐƠN ĐIỆU CỦA HÀM SỐ

I.1. Định nghĩa

"Theo SGK: Kí hiệu K là khoảng hoặc đoạn hoặc nửa khoảng. Giả sử hàm số y = f(x) xác định trên K. Ta nói:
  1. Hàm số y = f(x) đồng biến (tăng) trên K nếu với mọi cặp x1, x2 thuộc K mà x1 nhỏ hơn x2 thì f(x1) nhỏ hơn f(x2), tức là x1<x2 => f(x1) < f(x2)
  2. Hàm số y = f(x) nghịch biến (giảm) trên K nếu với mọi cặp x1, x2 thuộc K mà x1 nhỏ hơn x2 thì f(x1) > f(x2), tức là x1<x2 => f(x1) > f(x2)
  3. Hàm số đồng biến hoặc nghịch biến trên K gọi chung là đơn điệu trên K
NHẬN XÉT:
a) f(x) đồng biến trên K <=> [f(x2) - f(x1)]/(x2-x1) > 0 với mọi x1, x2 thuộc K. Nếu hàm số đồng biến thì đồ thị đi lên từ trái sang phải
b) f(x) đồng biến trên K <=> [f(x2) - f(x1)]/(x2-x1) < 0 với mọi x1, x2 thuộc K. Nếu hàm số nghịch biến thì đồ thị hàm số đi xuống từ trái sang phải "
Với định nghĩa trên thì đa số các bạn sẽ hiểu mà không cần thắc mắc hay quan sát gì  thêm,tuy nhiên có một vấn đề nhỏ nhỏ ở đây được thể hiện ở những dòng bôi đỏ
K là khoảng hoặc đoạn hoặc nửa khoảng nếu định nghĩa nói rằng K là tập xác định của hàm số y = f(x) thì đa số chúng ta đã chấp nhận định nghĩa này! K chỉ cần là tập xác định của hàm số thôi sao??? Không, chúng ta đang làm việc trên các hàm số liên tục và trong trường hợp tập xác định của y=f(x) không thỏa mãn liên tục thì định nghĩa trên cần xem xét lại nếu không muốn nói là KHÔNG ỔN. Chính vì vậy, phát biểu K là khoảng hoặc đoạn hoặc nửa khoảng không chỉ phản ánh về tính liên tục của K mà còn liệt kê ra luôn một cách thức đơn giản để nhận biết K có thỏa mãn không, đó là khoảng, đoạn, nửa khoảng.
Tóm lại ta cần nắm định nghĩa kèm theo một cái chú ý nhỏ nhỏ ở trên
Những gì cần nhớ đơn giản là: 
  1. K phải thỏa mãn liên tục
  2. F(x) cùng tăng hoặc cùng giảm theo x thì gọi là đồng bóng ngược lại là nghịch biến
Hình như mình gõ nhầm chính tả chỗ nào đó thì phải. :)))

I.2 Định lý về đạo hàm

Sách Giáo Khoa cho ta phát biểu
"Cho hàm số y=f(x) có đạo hàm trên K
a) Nếu f'(x) > 0 với mọi x thuộc K thì hàm số f(x) đồng biến trên K
b) Nếu f'(x) < 0 với mọi x thuộc K thì hàm số f(x) nghịch biến trên K "

Trong sách có một CHÚ Ý rằng nếu f'(x) = 0 với mọi x thuộc K thì f(x) không đổi trên K

Sau đây mình xin giới thiệu một định lý khác thường dùng hơn
Nếu f'(x) >=0 với mọi x thuộc K và f'(x) = 0 tại hữu hạn điểm thì f(x) đồng biến trên K và ngược lại

II - QUY TẮC XÉT TÍNH ĐƠN ĐIỆU CỦA HÀM SỐ

II.1 Quy tắc 

1. Tìm tập xác định
2. Tìm đạo hàm f'(x) và các giá trị tại đó f'(x) = 0
3. Lập bảng biến thiên
4. Kết luận đồng biến, nghịch biến và vẽ đồ thị ( chắc hết vẽ rồi )

II.2 Ứng Dụng 

Các bạn làm bài tập trong SGK nhé, thắc mắc nào cứ hỏi. Thân chào



TỔNG QUAN VỀ BLOG TÌM LẠI KIẾN THỨC GIẢI TÍCH 12

Giới thiệu về Giải Tích 12

I.Tổng quan về giải tích 12 và thời gian ôn tập

Giải tích 12 tóm gọn sách giáo khoa gồm có 4 chương liên quan đến KHẢO-VẼ; HÀM ĐẶC BIỆT; NGUYÊN HÀM-TÍCH PHÂN; SỐ PHỨC. Các chương này mỗi chương gồm 3 đến 5 bài cùng xoay quanh một chủ đề nhất định, mình sẽ phân bố thời gian gồm 40% số buổi là Lý Thuyết, 60% số buổi còn lại  sẽ xoay quanh các vấn đề thực hành, ứng dụng và các câu trong đề thi. Sau đây là cái nhìn tổng quan về nội dung và yêu cầu của từng chương
  • Chương I: Cần nắm được các khái niệm đồng biến, nghịch biến ( dĩ nhiên giữa lý thuyết và thực hành có vài điểm cần chú ý ), các khái niệm về cực trị, tiệm cận, và khảo sát sự biến thiên. Ở đây giá trị lớn nhất và nhỏ nhất chỉ là một ứng dụng của hàm số nên chúng ta sẽ không đào sâu vào vì sẽ có một chuyên đề riêng dành cho nó
  • Chương II: Hàm số lũy thừa, hàm số mũ và hàm số logarit - đơn giả chỉ là khái niệm về một loại hàm số, chúng ta cần nắm khái niệm - một vài tính chất - một vài điều kiện. Và một mảng cũng khá được chú ý là các phương trình, bất phương trình  liên quan tới mũ, logarit. Cũng khá thú vị đấy chứ ( không hiểu sao lúc viết đến dòng này mình chợt nghĩ " Cứ đặt ẩn rồi đưa về dạng hàng xóm" )
  • Chương III: Nguyên hàm - tích phân - ứng dụng. Coi mục lục sách là hiểu rồi, về cơ bản các kĩ thuật casio giúp ta khá nhiều trong việc tìm các nguyên hàm - tích phân. Tuy nhiên bên cạnh nắm vững các khái niệm, mình sẽ  giới thiệu các bạn một số phương pháp thú vị trong các "dạng toán" này (P/s: Toán suy cho cùng chỉ có 1 dạng: Giả thiết rồi Kết luận )
  • Chương IV: SỐ PHỨC. Cái tên nghe phức tạp nhưng thực sự rất đơn giản. Theo cách nghĩ có phần chủ qua của bản thân: nếu z là số phức, đặt z = a + b.i thì cái gì cũng ra. Theo ý kiến chủ quan thôi nhé ^^
Thời gian dành cho quyển giải tích này được ước lượng là n ngày ( vì tết mà, phải đi chơi, dọn nhà cửa các kiểu nữa chứ :) , nói cà rỡn chứ cũng không mất nhiều thời gian để tìm lại kiến thức đâu :P )

II. Cách đọc blog giải tích 12 thế nào là hiệu quả nhất?

Với tâm thế là ôn lại kiến thức, tuy nhiên mình sẽ viết một cách chi tiết nhất có thể đối với các định lý, định nghĩa với hi vọng các bạn có thể nắm được các kiến thức căn bản. Dĩ nhiên bạn có thể bỏ qua và đi thẳng tới phần bài tập nếu cảm thấy mình nắm được những mảng này, nhằm tiết kiệm thời gian. Bên cạnh đó mình sẽ giới thiệu cho bạn một số sách, đề thi, một số tác giả nhằm bạn có tài liệu tham khảo đặng có cái nhìn cụ thể. Các bạn hoàn toàn có thể đóng góp cho bài viết của mình bằng cách comment phía dưới học gửi mail cho mình Themoonwolf1997@gmail.com, mình sẽ cố gắng giải đáp mọi thắc mắc có thể. Hông hiểu là hỏi liền nhé! Việc đọc blog hiệu quả sẽ giúp bạn khắc sâu thêm kiên thức,cũng cố lại và cũng hi vọng các bạn có thể ngộ ra điều gì đó mới mới hay hay để "chia sẻ ngược" lại cho mình.

III. Những "tuyên bố" của các thánh 10 điểm Toán 

Mình thì thi đại học điểm Toán cũng thấp lắm, có 9 điểm à ( chắc tại cái tội trình bày chớ mình nhớ là mình làm full đề mà ... hic ). Có cái đề thi Toán năm 2015 ( thể hệ trâu bạch ấy ) các bạn có thể tham khảo đâu đó trên Internet. Trở lại chủ đề chính, thế các thanh tuyên bố gì nhỉ ? - Em chỉ học SGK. 

Mình thì chả biết thế nào, chắc là đúng thiệt, thánh mà nói cấm có sai. Kì thực thì tuyên bố này có thể đúng với một số cá nhân nào đó, nhưng tiếc là không đúng với đại đa số. Và mình cam đoan rằng không thể "chỉ đọc sách giáo khoa" mà được 10 điểm Toán được. Ít ra phải cày đề chứ, ít ra phải đọc thêm các nguồn tài liệu ở đâu đó chứ vì có phải ai cũng hiểu được những "thâm thúy" tìm hoài vẫn ẩn trong sách đâu. Nói như vậy không có nghĩa là Sách Giáo Khoa không quan trọng, nó rất quan trọng và biết cách sử dụng nó lại còn quan trọng hơn. Với hi vọng blog là một quyển cẩm nang cho sách giáo khoa, một quyển cẩm nang giới thiệu những tài liệu khác, một cẩm nang cho việc tìm lại kiến thức, mình trịnh trọng "tuyên bố" với các bạn Sơ Ri "Tìm Lại kiến thức Giải tích 12" bắt đầu.
Cái hình trên là tìm đại ấy nhé, công nhận @@

CHINH PHỤC MÔN TOÁN, ĐÔI LỜI DÀNH CHO BẠN TRẺ


  • LỜI MỞ ĐẦU

Chào các đồng chí!
Lời đầu tiên dĩ nhiên là lời chúc một năm mới thắng lợi và hạnh phúc!
Lời thứ hai dĩ nhiên là chúc các đồng chí sẽ có một mùa thi cũng hạnh phúc và viên mãn !
Lời thứ ba, mình mạn phép viết blog Thủ thuật toán để chia sẻ một phần kiến thức, kĩ năng nhỏ bé hi vọng giúp mấy bé 98 có một số "vũ khí phù hợp" nhằm chinh phục môn Toán trắc nghiệm


  • ĐÔI LỜI VỀ MÌNH

Mình là ai? Và tại sao có thể giúp được các bạn?
Mình là Quách Lão Tiên Sinh ( để tên nick cho tò mò chơi :) ), là sinh viên năm 2 trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh ( tên trường dài thật đấy, người ta hay gọi là Yds cho gọn đấy )
Và đây có thể là phần bạn sẽ quan tâm, chém gió một tí về thành tích của mình nhé:
- Giải cờ tướng, huy chương bạc cấp thôn
- Giải Nhì toán Tỉnh ( Lớp 11 )
- Huy chương Vàng Olympic 30-4
- Giải Nhì Tin học trẻ quốc gia
Khoe như vậy chứ thú thật kiến thức Toán đã rơi rụng nhiều sau gần 2 năm chinh chiến với sách Y. Nhân dịp nghỉ Tết, với khoảng thời gian nghỉ cũng tương đối dài và tài gõ máy tương đối nhanh, mình hi vọng viết xong được Sơ Ri về ..... về "con đường tìm lại kiến thức đã rơi rụng". Rất hân hạnh được đồng hành cùng các bạn.


  • ĐÔI LỜI GỞI MẤY BẠN TRẺ

Các đồng chí thân mến!
Cày bừa để thi Đại học là một quan niệm "ngàn xưa" truyền lại. Hình thức thi dẫu đã thay đổi, tuy nhiên dù thi trắc nghiệm hay tự luận thì các đồng chí vẫn kế thừa cái kinh nghiệm "ngàn xưa" ấy
Các đồng chí vẫn phải dùng Sách Giáo Khoa, vẫn phải "xài" mấy ông thầy dậy Toán cũ....v..v....
Rất nhiều thứ phải dùng lại, nhưng về bản chất thì việc học toán không hề thay đổi.
Có vài điểm mới đáng để nói với mấy bạn trẻ :
- Phải biết bấm máy tính: Không biết bấm máy là tiêu ấy nhé. Nhưng chỉ nên biết vài thủ thuật bấm sao cho nhanh, thủ thuật cho vài bài toán nào đấy để tiết kiệm thời gian thôi, chẳng hạn: "làm thế nào để giải nhanh hàm số bằng casio, làm thế nào để giải nhanh ZYXXXX XXXXXXXXXXXXX". Nhớ nhé, đừng lệ thuộc vào KỸ THUẬT CASIO, vì hiện nay nhiều đề thi xuât hiện với những câu hỏi mà xài CASIO "máy móc" là sai liền nhiều khi còn mất thời gian hơn. Sau đây là vài câu thi thử mình sưu tầm: (link):https://drive.google.com/drive/folders/0B0p8NRc63ZeObVdJakRzS04wZUk
- Theo quan điểm của mình Toán trắc nghiệm khó mà đạt được điểm 10, nhưng bù lại để đạt 6,7 điểm trở lên không khó ( châm ngôn: không biết còn có cái để khoanh, còn nếu tự luận thì...@@)
- Thi toán trắc nghiệm cái quan trọng là gì? Chính là kết quả! Quá trình tư duy hiệu quả là quá trình để đạt kết quả đúng một cách đơn giản và không tốn quá nhiều thời gian. Cũng vì quan trọng là KẾT QUẢ mà chúng ta có thể dùng DAO GIẾT TRÂU để MỔ RUỒI! Chúng ta hoàn toàn có quyền tìm kiếm, và ứng dụng nhiều định lý, tính chất toán học nằm ngoài SGK, nằm trong chương trình CHUYÊN............

Đà Lạt, ngày 19 tháng 1 năm 2017
Thân chào các đồng chí!